Quy định pháp luật về bảo vệ người yếu thế trong xã hội tại Việt Nam – Phần 2. Các trường hợp bệnh hiểm nghèo mà cá nhân được phép kêu gọi từ thiện để hỗ trợ

Trong những năm trở lại đây, các hoạt động kêu gọi từ thiện thực hiện bởi người nổi tiếng, các cá nhân, tổ chức không phải là cơ quan, tổ chức có chức năng vận động gây quỹ từ thiện đã và đang gây xôn xao trong dư luận về tính minh bạch của việc sử dụng tiền từ thiện và về đối tượng được nhận hỗ trợ.

Kêu gọi từ thiện là hoạt động mang tính nhân văn, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của cộng đồng với những người khó khăn, yếu thế, đặc biệt là các trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo cần nguồn hỗ trợ tài chính từ xã hội. Tuy nhiên, để hoạt động từ thiện được thực hiện đúng quy định, đúng với mục đích cao đẹp ban đầu của nó thì mỗi cá nhân người vận động từ thiện và các mạnh thường quân cần trang bị kiến thức pháp luật liên quan đến vấn đề này.

1. Nhận diện các trường hợp bệnh hiểm nghèo mà cá nhân được phép kêu gọi từ thiện

Từ ngày 01 tháng 03 năm 2025, Danh mục bệnh hiểm nghèo để các tổ chức, cá nhân vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo quy định tại Thông tư 50/2024/TT-BYT chính thức có hiệu lực.

Theo đó, Bộ Y tế đã liệt kê các bệnh hiểm nghèo thuộc Danh mục nêu trên bao gồm:

STTTên bệnh*Mã bệnhGhi chú
1.Viêm màng não và viêm não màng não do ListeriaA32.1Mức độ nặng
2.Nhiễm khuẩn huyếtA32.7; A39; A40; A41Mức độ nặng, phải sử dụng kỹ thuật như lọc máu, tim phổi nhân tạo
3.Bệnh bại liệt cấpA80Có di chứng, không có khả năng phục hồi
4.Bệnh HIV dẫn đến bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng/ gây u ác tính/ dẫn đến các bệnh xác định khác/ bệnh lý khácB20 đến B23HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự chăm sóc bản thân
5.U ác tínhC00 đến C97Giai đoạn cuối
6.Thiếu máu tan máu mắc phảiD59 (từ D59.0 đến 59.5)Có biến chứng
7.Các thể suy tủy xương khácD61 (từ D61.0 đến D61.3; từ D61.8 đến D61.9)Có biến chứng
8.Ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô cănD69.3Trường hợp không đáp ứng với điều trị thông thường
9.Các bệnh của tổ chức lympho-liên võng và (tổ chức bào) mô bào-liên võng xác định khácD76 (từ D76.0 đến D76.2)Mức độ nặng
10.Suy giảm miễn dịch kết hợpD81 
11.Bệnh đái tháo đường phụ thuộc insulineE10.5 đến E10.8Có biến chứng nặng ở các cơ quan đích (mắt, tim, thận, mạch máu) gây ảnh hưởng đến sức khoẻ nghiêm trọng, cần người giúp đỡ thường xuyên
12.Bệnh đái tháo đường type 2 có biến chứngE11.7Có biến chứng nặng ở các cơ quan đích (mắt, tim, thận, mạch máu) gây ảnh hưởng đến sức khoẻ nghiêm trọng, cần có người giúp đỡ thường xuyên
13.Suy tuyến yênE23.0Suy đa tuyến sau phẫu thuật u tuyến yên
14.Sa sút trí tuệF01 đến F03Tình trạng sa sút trí tuệ nặng, mất trí nhớ hoàn toàn, phải chăm sóc y tế liên tục, thường xuyên
15.Viêm não, viêm tủy và viêm não- tủyG04Mức độ nặng
16.Teo cơ do tổn thương tủy sống và hội chứng liên quanG12 
17.Bệnh ParkinsonG20Bệnh Parkinson giai đoạn di chứng, phải có người chăm sóc y tế
18.Xơ cứng rải rácG35Mức độ nặng, tổn thương đa cơ quan
19.Động kinh cơn lớn, không đặc hiệu (kèm hay không có cơn nhỏ)G40.6Động kinh kháng thuốc
20.Nhược cơG70.0Trường hợp không đáp ứng điều trị thông thường
21.Liệt nửa ngườiG81 
22.Liệt hai chân và liệt tứ chiG82 
23.Mù hai mắtH54.0 
24.Câm điếcH91.3Bẩm sinh
25.Nhồi máu cơ tim cấp/ tiến triểnI21; I22 
26.Tăng áp động mạch phổiI27.0; I27.2Mức độ nặng
27.Suy timI50Suy tim độ 3, độ 4
28.Đột quỵ (tai biến mạch máu não)I64Mức độ nặng, phải can thiệp mạch
29.Suy ganK72Mức độ nặng
30.Xơ ganK74Giai đoạn mất bù
31.Viêm tụy mạn tính tái phátK86.1Mức độ nặng
32.Lupus ban đỏ hệ thốngM32Có biến chứng, không đáp ứng với điều trị thường quy
33.Hội chứng thận hưN04Thể kháng thuốc
34.Bệnh thận mạn tínhN18.4; N18.5Giai đoạn 4, 5
35.Suy đa tạngR65.1; R65.3 
36.Bỏng độ baT20.3; T21.3; T22.3; T24.3; T25.3 
37.Tình trạng ghép tạngZ94 
38.Thận nhân tạo chu kỳZ99.2 

Theo quy định tại Nghị định 93/2021/NĐ-CP, chỉ có các đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định này mới được thực hiện vận động từ thiện, với phạm vi vận động được giới hạn đối với từng đối tượng cụ thể.

Trong đó, tổ chức, cá nhân (không phải là các cơ quan thông tin đại chúng, cơ sở y tế, các quỹ từ thiện, doanh nghiệp xã hội, tổ chức có tư cách tham gia vận động  từ thiện theo quy định của pháp luật),chỉ được quyền tham gia vận động, tiếp nhận, phân phối nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo cho từng trường hợp bệnh nhân cụ thể mắc các bệnh hiểm nghèo như được liệt kê tại Danh mục nêu trên đây.

Cần lưu ý rằng, đối với các bệnh nhân không thuộc trường hợp được liệt kê tại Danh mục nêu trên thì tổ chức, cá nhân sẽ không được kêu gọi, vận động cộng đồng đóng góp tiền từ thiện. Tuy nhiên, các cá nhân có quyền lan tỏa các trường hợp người yếu thế, khó khăn mắc bệnh không thuộc Danh mục nêu trên nhưng rất cần sự giúp đỡ của xã hội, để các mạnh thường quân có thể tự nguyện tặng cho, giúp đỡ tài chính trực tiếp cho người mắc bệnh hoặc ủy quyền cho cá nhân khác trao tiền hỗ trợ cho người mắc bệnh theo đúng quy định pháp luật dân sự về tặng cho tài sản và hợp đồng ủy quyền trao tặng tài sản.

2. Nguyên tắc quản lý, sử dụng tiền từ thiện hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo

Một số hành vi bị nghiêm cấm khi vận động, sử dụng tiền từ thiện bao gồm:

  • Báo cáo, cung cấp thông tin không đúng sự thật; chiếm đoạt; phân phối, sử dụng sai mục đích, không đúng thời gian phân phối, đối tượng được hỗ trợ từ nguồn đóng góp tự nguyện;
  • Lợi dụng công tác vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện để trục lợi là các hành vi bị nghiêm cấm khi vận động, sử dụng tiền từ thiện.

Để hạn chế vi phạm quy định về vận động từ thiện cho các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng tiền đóng góp tự nguyện hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo được quy định tại Mục 4 Chương II Nghị định 93/2021/NĐ-CP. Theo đó, một số nghĩa vụ của cá nhân người đứng ra vận động hỗ trợ phải bảo đảm tuân thủ bao gồm:

  • Tổng hợp đầy đủ thông tin về kết quả tiếp nhận, sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo và thực hiện công khai trên các phương tiện truyền thông.
  • Các tổ chức, cơ quan, đơn vị vận động, tiếp nhận và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện để hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo có trách nhiệm phản ánh việc tiếp nhận, sử dụng vào báo cáo tài chính của tổ chức, cơ quan, đơn vị theo quy định hiện hành.
  • Chi phí cho hoạt động vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện do cá nhân đứng ra vận động tự chi trả. Trường hợp được các tổ chức, cá nhân đóng góp đồng ý thì được chi từ nguồn đóng góp tự nguyện, nhưng phải tổng hợp và công khai khoản chi phí này.
  • Việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện để thực hiện các hoạt động xã hội, từ thiện của cá nhân phải mở sổ để ghi chép đầy đủ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập báo cáo và minh bạch thông tin theo quy định cụ thể tại Mục 3 Chương II Thông tư 41/2022/TT-BTC và pháp luật có liên quan.

Vi phạm trong vận động, quản lý và sử dụng tiền từ thiện hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo có thể bị xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi để hư hỏng, thất thoát tiền, hàng cứu trợ; sử dụng, phân phối tiền, hàng cứu trợ không đúng mục đích, không đúng đối tượng; tráo đổi hàng cứu trợ theo Nghị định 130/2021/NĐ-CP. Trường hợp vi phạm đủ yếu tố cấu thành tội phạm, cá nhân người vận động từ thiện có thể đối mặt với rủi ro bị xử lý hình sự đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự 2015.

Trên đây là một số quy định liên quan đến hoạt động của cá nhân kêu gọi từ thiện đối với bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi hi vọng đã cung cấp được các kiến thức pháp luật cần thiết để các khoản viện trợ xã hội có thể đến đúng đối tượng yếu thế cần được giúp đỡ, và việc quản lý, sử dụng viện trợ được diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Hà Linh