Nghị định 349/2026/NĐ-CP: Những thay đổi đáng chú ý về lựa chọn nhà thầu và đặt hàng dịch vụ công

Ngày 09/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 349/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, đồng thời sửa đổi Nghị định số 32/2019/NĐ-CP về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng kinh phí chi thường xuyên.

Nghị định có hiệu lực ngay từ ngày ký ban hành. Trọng tâm của văn bản là tháo gỡ vướng mắc trong mua sắm công, đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm và chuyển đổi số, nhưng đồng thời tăng yêu cầu công khai dữ liệu, giám sát và trách nhiệm giải trình của chủ đầu tư, cơ quan đặt hàng và nhà thầu.

CTA Việt Nam tóm lược và phân tích các thay đổi đáng chú ý dưới đây.

1. Hoàn thiện cơ chế xác định giá gói thầu, đặc biệt đối với mua sắm y tế

1.1. Yêu cầu báo giá được chuẩn hóa theo hướng minh bạch hơn

Nghị định sửa đổi điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP, theo đó, về nguyên tắc, chủ đầu tư cần có tối thiểu 01 báo giá của hàng hóa hoặc dịch vụ và được khuyến khích thu thập nhiều hơn một báo giá.

Đáng chú ý, yêu cầu báo giá phải được đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; đơn vị quan tâm gửi báo giá trên Hệ thống trong thời hạn tối thiểu 03 ngày làm việc kể từ ngày đăng tải. Nếu có nhiều báo giá, chủ đầu tư có thể lấy giá trung bình; đồng thời được loại trừ báo giá hoặc hạng mục báo giá có mức giá cao hoặc thấp hơn trên 30% giá trung bình để xác định giá tham chiếu.

1.2. Cơ chế riêng cho thuốc, vật tư và thiết bị y tế

Đối với thuốc, hóa chất, vật tư xét nghiệm, thiết bị y tế, linh kiện, phụ kiện và vật tư thay thế cho thiết bị y tế, Nghị định thiết kế cơ chế linh hoạt hơn:

  • Chủ đầu tư xác định tiêu chí kỹ thuật trên cơ sở yêu cầu chuyên môn;
  • Yêu cầu báo giá được đăng tải trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia;
  • Thời hạn gửi báo giá tối thiểu là 10 ngày;
  • Khuyến khích đăng tải thêm trên cổng/trang thông tin điện tử của chủ đầu tư, Bộ Y tế hoặc hệ thống quản lý thiết bị y tế;
  • Khi có từ 02 báo giá trở lên, chủ đầu tư được lựa chọn báo giá cao nhất nếu phù hợp với khả năng tài chính và yêu cầu chuyên môn.

Vì sao có thay đổi này?

Cách tiếp cận “giá thấp nhất” hoặc “giá trung bình” không phải lúc nào cũng phản ánh được đặc tính chuyên môn, chất lượng, tính tương thích kỹ thuật, khả năng bảo hành và tính liên tục trong cung ứng của hàng hóa y tế. Việc cho phép chọn báo giá cao nhất trong các báo giá hợp lệ, với điều kiện phải phù hợp yêu cầu chuyên môn và khả năng tài chính, giúp hạn chế rủi ro mua sắm thiết bị hoặc vật tư rẻ nhưng không đáp ứng nhu cầu sử dụng thực tế.

Tuy nhiên, chủ đầu tư cần xây dựng hồ sơ xác định tiêu chí kỹ thuật, nhu cầu chuyên môn và căn cứ lựa chọn giá thật chặt chẽ. Đây sẽ là cơ sở quan trọng khi giải trình với cơ quan thanh tra, kiểm toán hoặc giám sát.

1.3. Làm rõ trách nhiệm của bên cung cấp báo giá

Nghị định quy định rõ đơn vị cung cấp báo giá phải bảo đảm thông tin giá phù hợp với khả năng cung cấp; đồng thời không vi phạm quy định pháp luật về cạnh tranh, bán phá giá hoặc nâng khống giá.

Đáng chú ý, nếu chủ đầu tư đã tuân thủ đầy đủ thủ tục thu thập báo giá, bảo đảm công khai và minh bạch, thì chủ đầu tư không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của đơn vị cung cấp báo giá.

Quy định này giúp phân định trách nhiệm giữa chủ đầu tư và đơn vị báo giá, giảm tâm lý e ngại, trì hoãn mua sắm do lo ngại rủi ro từ những thông tin thị trường do bên thứ ba cung cấp.

2. Nới điều kiện nhân sự cho dự án khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

Nghị định cho phép đối với các gói thầu thuộc:

  • Dự án khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
  • Dự án ứng dụng công nghệ cao;
  • Dự án ứng dụng công nghệ mới;
  • Dự toán mua sắm không hình thành dự án,

chủ đầu tư được lựa chọn thành viên tổ chuyên gia và tổ thẩm định có năng lực thực hiện công việc mà không bắt buộc đáp ứng một số yêu cầu chung về chứng chỉ và kinh nghiệm đấu thầu; ngoại trừ trường hợp thành viên là tư vấn cá nhân hoặc nhân sự thuộc tổ chức tư vấn đấu thầu.

Ngoài ra, chuyên gia chuyên ngành bên ngoài, được huy động để cho ý kiến hoặc hỗ trợ chuyên môn, không bắt buộc phải có chứng chỉ nghiệp vụ chuyên môn về đấu thầu.

Vì sao có thay đổi này?

Các gói thầu công nghệ cao, đổi mới sáng tạo hoặc chuyển đổi số thường đòi hỏi kiến thức sâu về lĩnh vực chuyên ngành: dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, phần mềm nền tảng, thiết bị chuyên dụng hoặc công nghệ mới. Nếu cứng nhắc yêu cầu mọi chuyên gia đều phải có chứng chỉ đấu thầu, chủ đầu tư có thể không huy động được chuyên gia phù hợp nhất.

Quy định mới ưu tiên năng lực chuyên môn thực chất, nhưng không loại bỏ hoàn toàn yêu cầu về tuân thủ đấu thầu đối với tổ chức, cá nhân hành nghề tư vấn đấu thầu.

3. Mở rộng trường hợp chỉ định thầu để đáp ứng tiến độ và yêu cầu đặc thù

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của Nghị định là mở rộng và làm rõ các trường hợp chỉ định thầu.

3.1. Gói thầu cấp bách theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền

Nghị định cho phép áp dụng chỉ định thầu đối với gói thầu cần thực hiện ngay để bảo đảm tiến độ theo các nghị quyết, kết luận hoặc văn bản chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương và địa phương.

Quy định cũng áp dụng khi cần triển khai ngay để bảo đảm sự kết nối, đồng bộ và vận hành liên tục của các công trình trong dự án theo chỉ đạo nêu trên.

3.2. Trường hợp đấu thầu nhưng không chọn được nhà thầu

Nghị định bổ sung trường hợp gói thầu đã đăng tải thông báo mời thầu, mời quan tâm hoặc mời sơ tuyển nhưng:

  • Không có nhà thầu nộp hồ sơ;
  • Tất cả hồ sơ dự thầu không đáp ứng hồ sơ mời thầu; hoặc
  • Tất cả nhà thầu không đáp ứng yêu cầu để thực hiện gói thầu.

Trong các trường hợp này, chủ đầu tư có thể xem xét áp dụng chỉ định thầu theo quy trình thông thường.

3.3. Mở rộng hạn mức chỉ định thầu theo giá gói thầu

Nghị định quy định hạn mức chỉ định thầu mới như sau:

Loại gói thầuHạn mức giá gói thầu
Dự toán mua sắm không hình thành dự ánKhông quá 01 tỷ đồng
Dịch vụ tư vấn thuộc dự ánKhông quá 03 tỷ đồng
Dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp thuộc dự ánKhông quá 05 tỷ đồng

Việc tăng hoặc làm rõ các hạn mức này hướng đến giảm thủ tục đối với các gói thầu quy mô nhỏ và vừa, trong khi vẫn duy trì yêu cầu về hiệu quả, tiết kiệm và trách nhiệm giải trình.

3.4. Bổ sung nhóm gói thầu phù hợp với thực tiễn mới

Các trường hợp đáng chú ý khác được bổ sung hoặc mở rộng gồm:

  • Gói thầu chuyển đổi số phục vụ cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng số dùng chung, nền tảng quản trị và điều hành của Chính phủ, hệ thống giải quyết thủ tục hành chính, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trung tâm giám sát điều hành thông minh;
  • Gói thầu tư vấn, thi công di dời hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ giải phóng mặt bằng, tái định cư;
  • Gói thầu rà phá bom mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi công;
  • Gói thầu về quy hoạch;
  • Mua sắm từ hoạt động thanh lý, giải thể, phá sản;
  • Mua hàng hóa thông qua giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa.

Vì sao có thay đổi này?

Những gói thầu này thường có yêu cầu cao về tiến độ, tính liên tục, khả năng tương thích hệ thống hoặc phát sinh từ các tình huống thị trường không phù hợp với quy trình đấu thầu cạnh tranh thông thường. Ví dụ, với một nền tảng số dùng chung hoặc cơ sở dữ liệu đang vận hành, việc lựa chọn nhà thầu không bảo đảm tính tương thích có thể gây gián đoạn dịch vụ công hoặc phát sinh chi phí tích hợp lớn.

Tuy vậy, chỉ định thầu không đồng nghĩa với việc chủ đầu tư được tự do lựa chọn nhà thầu. Chủ đầu tư vẫn phải lập hồ sơ, xác định điều kiện áp dụng, thương thảo giá, công khai kết quả và chịu trách nhiệm về tính cần thiết, hiệu quả của quyết định.

4. Đơn giản hóa quy trình chỉ định thầu nhưng tăng yêu cầu công khai

4.1. Không bắt buộc thẩm định trong một số bước

Đối với chỉ định thầu theo quy trình thông thường, chủ đầu tư không bắt buộc phải thẩm định hồ sơ yêu cầu hoặc kết quả lựa chọn nhà thầu, trừ khi có yêu cầu thẩm định.

Đây là thay đổi đáng kể theo hướng giảm tầng nấc thủ tục. Tuy nhiên, việc không bắt buộc thẩm định không làm giảm nghĩa vụ lập hồ sơ, xác định giá chỉ định thầu, đánh giá năng lực, thương thảo và phê duyệt kết quả theo đúng thẩm quyền.

4.2. Công khai đồng thời các tài liệu quan trọng

Khi công khai kết quả lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư phải công khai đồng thời trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia:

  • Hồ sơ yêu cầu;
  • Biên bản mở thầu;
  • Báo cáo đánh giá hồ sơ đề xuất.

Quy định này tạo cơ chế kiểm soát bằng dữ liệu và giám sát xã hội đối với chỉ định thầu, bù đắp cho việc rút gọn một số bước thủ tục nội bộ.

4.3. Cho phép nêu cụ thể nhãn hiệu, xuất xứ trong hồ sơ yêu cầu

Trong quy trình chỉ định thầu thông thường, hồ sơ yêu cầu được phép nêu ký mã hiệu, nhãn hiệu, xuất xứ cụ thể của hàng hóa cùng các yêu cầu kỹ thuật, dịch vụ liên quan.

Sự thay đổi này phù hợp với tính chất của chỉ định thầu trong các tình huống cần bảo đảm đồng bộ, tương thích hoặc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật đặc thù. Dù vậy, chủ đầu tư vẫn nên lưu hồ sơ giải trình chứng minh sự cần thiết của yêu cầu cụ thể này nhằm hạn chế nguy cơ bị đánh giá là thiết kế yêu cầu mang tính định hướng hoặc hạn chế cạnh tranh không có căn cứ.

4.4. Cơ chế thương thảo giá và yêu cầu tiết kiệm tối thiểu

Đối với gói thầu xây lắp chỉ định thầu theo trường hợp đã có nhà thầu trúng thầu trước đó thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế, Nghị định yêu cầu thương thảo để bảo đảm mức tiết kiệm tối thiểu 5% giá gói thầu.

Đây là cơ chế quan trọng để cân bằng giữa mục tiêu bảo đảm tiến độ và yêu cầu tiết kiệm ngân sách nhà nước.

5. Cơ chế mua sắm đơn giản đối với gói thầu có giá không quá 100 triệu đồng

Nghị định quy định đối với gói thầu hoặc nội dung mua sắm có giá không quá 100 triệu đồng, thủ trưởng cơ quan, đơn vị mua sắm được tự quyết định việc mua sắm trên cơ sở bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả và tự chịu trách nhiệm.

Các trường hợp này không phải đáp ứng điều kiện chỉ định thầu và không phải thực hiện quy trình chỉ định thầu rút gọn, nhưng phải bảo đảm đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định.

Ý nghĩa thực tiễn

Quy định giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính đối với các nhu cầu mua sắm nhỏ, phát sinh thường xuyên. Tuy nhiên, cơ quan, đơn vị cần kiểm soát chặt việc xác định nhu cầu và giá trị mua sắm để tránh chia nhỏ gói thầu trái quy định hoặc mua sắm lặp lại nhằm né quy trình lựa chọn nhà thầu.

6. Bổ sung nhiều trường hợp lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt

Nghị định bổ sung, sửa đổi các trường hợp đặc biệt tại Điều 84 Nghị định số 214/2025/NĐ-CP, trong đó đáng chú ý gồm:

  • Lựa chọn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, cơ quan nhà nước trong các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại, tranh chấp trong nước, nước ngoài hoặc quốc tế;
  • Mua vé máy bay cho đoàn công tác trong nước, quốc tế và đoàn khách quốc tế do phía Việt Nam đài thọ;
  • Cung cấp suất ăn học đường, suất ăn cho vận động viên, người cai nghiện, người bị tạm giữ, tạm giam, phạm nhân, trại viên, học sinh trường giáo dưỡng và đối tượng bảo trợ xã hội;
  • Dịch vụ bưu chính tống đạt giấy tờ của nước ngoài trong tương trợ tư pháp dân sự;
  • Cung cấp hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ theo cơ chế Phiếu hỗ trợ (Voucher);
  • Cung cấp dịch vụ khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân;
  • Một số nhiệm vụ đối ngoại, gồm tuyển dụng và quản lý lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; cung cấp dịch vụ nhà, đất đối ngoại; tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế; thuê dịch vụ phục vụ hoạt động đối ngoại và nhiệm vụ có yêu cầu đặc biệt về an ninh, đối ngoại.

Vì sao cần cơ chế đặc biệt?

Các dịch vụ nêu trên thường đòi hỏi tính sẵn sàng, tính bí mật, tính liên tục, yếu tố nhân đạo – xã hội hoặc yêu cầu đối ngoại mà một quy trình đấu thầu thông thường khó đáp ứng đầy đủ. Việc thừa nhận cơ chế riêng tạo căn cứ pháp lý rõ hơn cho cơ quan nhà nước khi tổ chức mua sắm.

Dù thuộc trường hợp đặc biệt, đơn vị mua sắm vẫn cần chứng minh lựa chọn của mình bảo đảm hiệu quả và tiết kiệm, lưu giữ hồ sơ về căn cứ pháp lý, nhu cầu, giá và kết quả thực hiện.

7. Thiết lập cơ chế lựa chọn nhà cung cấp theo Voucher

Một điểm mới đáng chú ý là cơ chế lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ theo Phiếu hỗ trợ (Voucher) hoặc công cụ hỗ trợ tương tự thuộc chương trình, đề án hoặc kế hoạch đã được phê duyệt.

Theo đó, cơ quan hỗ trợ phải:

  1. Công khai tiêu chí đánh giá, điều khoản tham chiếu, cơ chế kiểm soát chất lượng và quy trình đánh giá năng lực của nhà cung cấp;
  2. Xây dựng danh sách nhà cung cấp đủ năng lực, kinh nghiệm;
  3. Đàm phán và ký hợp đồng nguyên tắc với các nhà cung cấp được lựa chọn.

Ý nghĩa của cơ chế Voucher

Cơ chế này chuyển trọng tâm từ việc lựa chọn một nhà cung cấp cho từng đối tượng thụ hưởng sang việc xây dựng một mạng lưới nhà cung cấp đã được sàng lọc trước. Người thụ hưởng có thể tiếp cận dịch vụ nhanh hơn, còn cơ quan nhà nước vẫn kiểm soát chất lượng, điều kiện cung ứng và nguồn ngân sách thông qua hợp đồng nguyên tắc.

Để vận hành hiệu quả, tiêu chí lựa chọn, phương thức xác định giá, kiểm soát chất lượng, thanh toán và xử lý vi phạm của nhà cung cấp cần được quy định rõ trong chương trình và hợp đồng nguyên tắc.

8. Tăng trách nhiệm công khai, giám sát và xử lý vi phạm

8.1. Công khai kết quả thực hiện hợp đồng đặt hàng

Tổ chức đặt hàng phải công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia thông tin về:

  • Tiến độ thực hiện hợp đồng;
  • Chất lượng hàng hóa, dịch vụ;
  • Vi phạm hợp đồng và lý do vi phạm;
  • Các thông tin khác khi cần thiết.

Việc công khai được thực hiện trong hoặc sau quá trình thực hiện hợp đồng, nhưng không muộn hơn 30 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn thực hiện hợp đồng. Thông tin về chất lượng hàng hóa đã sử dụng cũng phải được công khai không muộn hơn thời hạn này.

8.2. Mở rộng phạm vi giám sát đấu thầu

Nghị định bổ sung yêu cầu giám sát đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc dự án áp dụng phương thức đặt hàng; đồng thời yêu cầu giám sát sâu hơn đối với gói thầu quan trọng, trọng điểm, nhất là:

  • Tiến độ thực hiện;
  • Kết quả áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu;
  • Kết quả áp dụng chỉ định thầu;
  • Kết quả lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt;
  • Kết quả thực hiện đặt hàng.

Cơ quan giám sát có trách nhiệm công khai kết quả giám sát và việc chủ đầu tư thực hiện yêu cầu khắc phục, chấn chỉnh trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

8.3. Đưa doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp tự chủ vào cơ chế giám sát thường xuyên

Sở Tài chính và các đơn vị được giao chức năng quản lý nhà nước về đấu thầu tại bộ, ngành có trách nhiệm giám sát thường xuyên hoạt động lựa chọn nhà thầu của:

  • Doanh nghiệp nhà nước không sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
  • Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;
  • Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên không sử dụng ngân sách nhà nước.

Các đơn vị thuộc nhóm này có trách nhiệm cập nhật thông tin về hoạt động lựa chọn nhà thầu theo quý trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Vì sao có thay đổi này?

Khi pháp luật trao thêm sự linh hoạt về hình thức lựa chọn nhà thầu và quy trình thực hiện, cơ chế hậu kiểm, dữ liệu hóa và công khai thông tin cần được tăng cường tương ứng. Đây là cách tiếp cận quản lý theo hướng: rút gọn thủ tục trước – tăng kiểm soát trong và sau quá trình thực hiện.

9. Siết hậu quả đối với nhà thầu có hành vi vi phạm nghiêm trọng

Nghị định bổ sung cơ chế xử lý đối với trường hợp nhân sự của nhà thầu bị Tòa án kết án về hành vi vi phạm quy định đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng nhằm giúp nhà thầu trúng thầu.

Theo đó, chủ đầu tư phải:

  • Chấm dứt hợp đồng với nhà thầu;
  • Tịch thu bảo đảm thực hiện hợp đồng;
  • Chỉ thanh toán phần công việc đã thực hiện và được nghiệm thu;
  • Đăng tải thông tin nhà thầu không hoàn thành hợp đồng trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, nêu rõ lý do chấm dứt;
  • Đối với phần công việc chưa thực hiện, có thể chỉ định thầu theo trường hợp luật định hoặc tách thành gói thầu mới để lựa chọn nhà thầu.

Quy định này làm rõ hệ quả trực tiếp của hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng, góp phần ngăn ngừa việc hưởng lợi từ hành vi gian lận hoặc vi phạm pháp luật đấu thầu.

10. Tháo gỡ tình huống thực tiễn trong đánh giá hồ sơ dự thầu

Nghị định cho phép chủ đầu tư xem xét cho nhà thầu bổ sung hoặc thay thế hàng hóa trong một tình huống rất hẹp: gói thầu chỉ có một nhà thầu tham dự; hồ sơ cơ bản đáp ứng yêu cầu; phần hàng hóa không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật là vật tư, thiết bị thông thường, thông dụng, sẵn có trên thị trường; và tổng giá trị các hạng mục này không quá 1% giá gói thầu.

Việc thay thế hoặc bổ sung không được làm tăng đơn giá hàng hóa đã chào.

Ngoài ra, nếu thời gian đánh giá kéo dài dẫn đến hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất hoặc bảo đảm dự thầu hết hiệu lực, chủ đầu tư có thể yêu cầu nhà thầu khôi phục hiệu lực. Nhà thầu có quyền từ chối; khi đó, hồ sơ không tiếp tục được xem xét và nhà thầu không bị xử lý vi phạm.

Ý nghĩa thực tiễn

Hai quy định này giúp xử lý các sai sót nhỏ hoặc sự chậm trễ mang tính thủ tục mà không làm đổ vỡ toàn bộ quy trình lựa chọn nhà thầu. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng rất giới hạn; chủ đầu tư không nên mở rộng tùy tiện để hợp thức hóa các thiếu sót mang tính bản chất của hồ sơ dự thầu.

11. Quản lý nhà thầu phụ: linh hoạt hơn nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc nhà thầu chính

Nghị định quy định chủ đầu tư xác định trước tỷ lệ tối đa sử dụng nhà thầu phụ trong hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu. Nhà thầu được đề xuất phần công việc, giá trị công việc và tên nhà thầu phụ; nếu chưa xác định được tên tại thời điểm dự thầu, nhà thầu có thể chưa nêu tên nhưng phải nêu rõ phần việc và giá trị dự kiến giao thầu phụ.

Một số điểm cần lưu ý:

  • Nhà thầu được thay đổi tên, tăng hoặc giảm phần việc giao thầu phụ, nhưng không vượt tỷ lệ tối đa được quy định;
  • Việc thay thế, bổ sung nhà thầu phụ trong quá trình thực hiện phải được chủ đầu tư hoặc tư vấn giám sát chấp thuận;
  • Chủ đầu tư không đánh giá năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu phụ thông thường; nhà thầu chính tự chịu trách nhiệm về việc lựa chọn;
  • Nhà thầu chính vẫn chịu toàn bộ trách nhiệm về chất lượng, tiến độ, khối lượng và các nghĩa vụ liên quan đối với phần việc của nhà thầu phụ;
  • Nhà thầu chính phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho nhà thầu phụ;
  • Việc mua nguyên liệu, vật tư, thiết bị, thuê thiết bị hoặc thuê nhân sự từ nhà cung cấp/cá nhân không bị coi là sử dụng nhà thầu phụ và không tính vào tỷ lệ giao thầu phụ.

Quy định này phản ánh thực tiễn của các dự án xây dựng, mua sắm và công nghệ phức tạp, nơi nhà thầu chính cần linh hoạt huy động chuỗi cung ứng. Song song, Nghị định bảo đảm nguyên tắc cốt lõi: nhà thầu chính không được chuyển giao phần việc cốt lõi vượt mức đã cam kết hoặc trốn tránh trách nhiệm thông qua nhà thầu phụ.

12. Rút ngắn và minh bạch hóa quy trình giải quyết kiến nghị

Nghị định sửa đổi cơ chế giải quyết kiến nghị trong đấu thầu theo hướng công khai hơn trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.

Một số mốc thời gian đáng lưu ý:

Nội dungThời hạn
Kiến nghị về hồ sơ mời thầuTối thiểu 03 ngày làm việc trước thời điểm đóng thầu
Chủ đầu tư giải quyết kiến nghị07 ngày làm việc từ ngày nhận đơn
Gửi kiến nghị lên cấp tiếp theo05 ngày làm việc từ ngày hết hạn/nhận kết quả giải quyết
Hội đồng giải quyết kiến nghị xử lý30 ngày từ ngày được thành lập
Gia hạn với kiến nghị phức tạpTối đa 10 ngày
Đăng tải văn bản giải quyết kiến nghị của Hội đồng02 ngày làm việc
Chủ đầu tư đăng tải văn bản giải quyết của người có thẩm quyền05 ngày làm việc

Việc công khai nội dung kiến nghị, thông tin người kiến nghị, thời điểm gửi và kết quả xử lý có thể nâng cao tính minh bạch, nhưng cũng đòi hỏi nhà thầu phải chuẩn bị kiến nghị có căn cứ, đúng hạn và kiểm soát nội dung thông tin trước khi gửi trên Hệ thống.

13. Những thay đổi đối với cơ chế đặt hàng sản phẩm, dịch vụ công

Bên cạnh các nội dung về lựa chọn nhà thầu, Nghị định sửa đổi Nghị định số 32/2019/NĐ-CP theo hướng tháo gỡ vướng mắc về lập phương án đặt hàng và xác định giá đặt hàng.

13.1. Cho phép lập phương án đặt hàng theo hướng đa niên độ

Phương án đặt hàng có thể được lập trên cơ sở:

  • Dự toán đặt hàng của năm ngân sách; và
  • Dự kiến dự toán đặt hàng của các năm ngân sách tiếp theo.

Thay đổi này giúp các cơ quan, đơn vị có cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ổn định hơn, nhất là đối với dịch vụ cần thực hiện liên tục hoặc có chu kỳ đầu tư dài.

13.2. Cơ chế triển khai nhiệm vụ cấp bách khi chưa có giá đặt hàng

Khi nhiệm vụ đặt hàng cấp bách cần triển khai ngay nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa ban hành đơn giá hoặc giá đặt hàng, cơ quan, đơn vị được ký hợp đồng với giá trị tối đa bằng:

  • 90% giá trị đặt hàng theo giá thực hiện của năm gần nhất; hoặc
  • 90% dự toán được cấp có thẩm quyền giao, đối với trường hợp thực hiện lần đầu.

Sau khi đơn giá, giá đặt hàng được ban hành, các bên điều chỉnh hợp đồng, nghiệm thu, thanh lý và nộp ngân sách phần chênh lệch lớn hơn, nếu có.

13.3. Tăng quyền chủ động của địa phương

Nếu bộ, cơ quan trung ương chưa ban hành hoặc ban hành không phù hợp với thực tế địa phương về định mức kinh tế – kỹ thuật, định mức chi phí, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể ban hành đối với sản phẩm, dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý, phù hợp khả năng cân đối ngân sách địa phương.

Vì sao có thay đổi này?

Hoạt động đặt hàng dịch vụ công thường bị đình trệ vì thiếu đơn giá, định mức hoặc do quy trình ban hành giá chưa theo kịp nhu cầu thực tế. Cơ chế mới nhằm bảo đảm dịch vụ công thiết yếu không bị gián đoạn, đồng thời duy trì nguyên tắc kiểm soát ngân sách thông qua mức trần 90%, điều chỉnh giá sau khi có căn cứ chính thức và nghĩa vụ nộp lại phần chênh lệch.

14. Lưu ý về hiệu lực và điều khoản chuyển tiếp

Nghị định số 349/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/9/2026.

Đối với Nghị định số 214/2025/NĐ-CP:

  • Gói thầu đã phát hành hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu hoặc đã gửi dự thảo hợp đồng đối với chỉ định thầu rút gọn trước ngày Nghị định có hiệu lực tiếp tục thực hiện theo quy định cũ;
  • Gói thầu đã phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu nhưng chưa phát hành hồ sơ/dự thảo hợp đồng và có nội dung không phù hợp Nghị định mới thì chủ đầu tư được điều chỉnh kế hoạch;
  • Một số hợp đồng mua vắc xin sản xuất trong nước đã ký trước thời điểm Nghị định có hiệu lực được phép điều chỉnh để áp dụng cơ chế xác định giá đặt hàng mới.

Đối với Nghị định số 32/2019/NĐ-CP:

  • Quyết định đặt hàng và hợp đồng đặt hàng đã ban hành hoặc ký trước ngày có hiệu lực tiếp tục thực hiện đến khi hoàn thành thanh toán, quyết toán;
  • Đối với dự toán năm 2026 chưa có quyết định đặt hàng hoặc chưa ký hợp đồng, cơ quan đặt hàng có thể lựa chọn áp dụng quy định cũ hoặc quy định mới;
  • Các định mức, tiêu chuẩn chất lượng, cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định và quy chế nghiệm thu đã được ban hành trước ngày Nghị định có hiệu lực tiếp tục được áp dụng.

15. Khuyến nghị của CTA Việt Nam

Để triển khai Nghị định hiệu quả và hạn chế rủi ro pháp lý, CTA Việt Nam khuyến nghị chủ đầu tư, bên mời thầu, cơ quan đặt hàng và nhà thầu lưu ý:

  1. Rà soát ngay các gói thầu đang chuẩn bị để xác định có thuộc trường hợp phải áp dụng quy định mới hay được tiếp tục áp dụng quy định cũ theo điều khoản chuyển tiếp.
  2. Thiết lập hồ sơ giải trình đầy đủ đối với việc xác định giá, lựa chọn báo giá, áp dụng chỉ định thầu, lựa chọn trong trường hợp đặc biệt và chỉ định nhà thầu.
  3. Cập nhật quy trình nội bộ về công khai thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, nhất là hồ sơ yêu cầu, báo cáo đánh giá, tiến độ hợp đồng, chất lượng hàng hóa và kết quả khắc phục sau giám sát.
  4. Kiểm soát chặt nhà thầu phụ, tỷ lệ sử dụng, phạm vi công việc và trách nhiệm thanh toán của nhà thầu chính.
  5. Chuẩn bị cơ chế xử lý hợp đồng trong trường hợp phát sinh vi phạm nghiêm trọng liên quan đến nhân sự nhà thầu hoặc yêu cầu chấm dứt hợp đồng.
  6. Chủ động xây dựng dữ liệu giá và dữ liệu thực hiện hợp đồng, bởi Nghị định đã bổ sung nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu về giá trong đấu thầu.
  7. Đối với nhà thầu, cần theo dõi chặt các mốc thời hạn kiến nghị, tình trạng tài khoản trên Hệ thống và hiệu lực hồ sơ dự thầu/bảo đảm dự thầu để bảo vệ quyền lợi trong quá trình tham dự thầu.