Được xây dựng trên nền tảng kinh tế của những năm 2000, khung pháp lý của Luật Thuế TNCN 2007 (có hiệu lực từ 01/01/2009) – mặc dù đã trải qua 07 lần sửa đổi, bổ sung (gần nhất là Luật số 71/2014/QH13) – đã trở nên chật chội trước sự biến động của thời đại. Luật Thuế TNCN được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 đã phần nào giải quyết các áp lực thực tiễn không thể trì hoãn như: áp lực lạm phát và mức sống thay đổi, xói mòn cơ sở thuế do kinh tế số, và thay đổi từ chiến lược cải cách hệ thống thuế của Chính phủ.
Theo đó, ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với cá nhân kinh doanh (100 triệu đồng/năm) đã tồn tại hơn một thập kỷ, trở nên quá thấp so với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và mức lương tối thiểu vùng hiện nay, biến sắc thuế này thành gánh nặng đối với nhóm kinh doanh nhỏ lẻ, vốn là mạng lưới an sinh xã hội tự nhiên của nền kinh tế.
Mặt khác, sự bùng nổ của thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số (livestream, affiliate marketing) và sự xuất hiện của tài sản số đã tạo ra những dòng thu nhập khổng lồ nằm ngoài hoặc nằm ở vùng xám của sự kiểm soát. Pháp luật thuế hiện hành đang chưa có các định nghĩa pháp lý để bao quát các đối tượng này.
Bên cạnh đó, căn cứ Quyết định 508/QĐ-TTg, Việt Nam cần hiện đại hóa hệ thống thuế, đảm bảo tính trung lập và công bằng giữa các thành phần kinh tế. Việc hộ kinh doanh quy mô lớn nộp thuế khoán thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp cùng quy mô là một sự bất bình đẳng cần loại bỏ.
1. Tổng quan một số nội dung thay đổi theo Luật Thuế TNCN 2025
So với Luật Thuế TNCN 2007 (sửa đổi, bổ sung), Luật Thuế TNCN 2025 đã có một số thay đổi nổi bật liên quan đến thuế từ hoạt động kinh doanh như sau:
| Nội dung | Luật Thuế TNCN 2007 (sửa đổi, bổ sung) | Luật Thuế TNCN 2025 | Tác động |
| Ngưỡng doanh thu chịu thuế | 100 triệu đồng/năm | 500 triệu đồng/năm (Điều 7) | Giảm gánh nặng chi phí cho đối tượng kinh doanh và gánh nặng quản lý nhà nước |
| Thu nhập từ kinh tế số | Chưa quy định rõ, thường áp vào “Dịch vụ” hoặc “Kinh doanh khác”. | “Thu nhập từ hoạt động kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số” (Điều 3) | Tạo cơ sở pháp lý để truy thu và quản lý thuế đối với các YouTuber, TikToker, Seller online. |
| Tài sản số | Không quy định (vùng xám) | “Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số” (Điều 3) | Lần đầu tiên “tài sản số” được thừa nhận trong văn bản Luật thuế, mở đường cho việc xây dựng khung pháp lý quản lý tài sản ảo. |
| Phương pháp tính thuế Hộ kinh doanh | Nộp thuế khoán hoặc kê khai (thực tế chủ yếu là thuế khoán). | Phân tầng: Hộ > 3 tỷ đồng/năm áp dụng thuế suất lũy tiến (15-20%) trên thu nhập. | Chuyển dịch từ quản lý dựa trên “doanh thu giả định” sang “thu nhập thực tế”, tiệm cận mô hình thuế TNDN. |
2. Chi tiết chính sách nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế
Một trong những điểm sáng nhất của Luật Thuế TNCN (sửa đổi) là việc nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với cá nhân kinh doanh.
Theo đó, Luật Thuế TNCN quy định:“Cá nhân cư trú có hoạt động sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ” (Điều 7, Khoản 1).
Theo các chuyên gia kinh tế và dữ liệu từ Bộ Tài chính, việc nâng ngưỡng từ 100 triệu lên 500 triệu đồng (gấp 5 lần) là một sự điều chỉnh chưa từng có tiền lệ về biên độ.2 Điều này đồng nghĩa với việc cá nhân có doanh thu trung bình dưới 41,6 triệu đồng/tháng sẽ hoàn toàn được miễn nghĩa vụ thuế TNCN và Thuế GTGT (do Luật Thuế GTGT mới cũng đồng bộ ngưỡng này).
Về mặt tác động xã hội, theo số liệu quản lý thuế tính đến tháng 10/2025, có khoảng 2,3 triệu hộ kinh doanh sẽ được đưa ra khỏi diện quản lý thuế.2 Đây là nhóm đối tượng kinh doanh nhỏ lẻ, mưu sinh, bao gồm các cửa hàng tạp hóa nhỏ, quán ăn đường phố, xe ôm công nghệ bán thời gian. Việc miễn thuế giúp họ giảm bớt gánh nặng chi phí, tăng thu nhập khả dụng để tái đầu tư hoặc tiêu dùng, đóng vai trò như một gói kích cầu nội địa dài hạn.
Về công quản lý, việc loại bỏ hàng triệu đối tượng nộp thuế nhỏ lẻ (nhưng đóng góp tỷ trọng thu ngân sách không lớn) giúp cơ quan thuế giải phóng nguồn lực khổng lồ. Thay vì phân tán nhân sự để thu thuế khoán vài trăm nghìn đồng mỗi tháng, cơ quan thuế có thể tập trung vào nhóm hộ kinh doanh lớn và khu vực thương mại điện tử, nơi rủi ro thất thu cao hơn nhiều.
Bên cạnh đó, việc quy định “Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân cho phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ” khắc phục nhược điểm của Luật cũ (quy định mức cố định 100 triệu), cho phép Chính Phủ linh hoạt phản ứng với lạm phát hoặc khủng hoảng kinh tế mà không cần chờ sửa Luật (một quy trình thường kéo dài 3-5 năm). Đây là kinh nghiệm được học hỏi từ các nền kinh tế phát triển, nơi các ngưỡng giảm trừ và miễn thuế thường được chỉ số hóa (indexation) theo lạm phát hàng năm.
3. Cấu trúc lại phương pháp tính thuế từ “khoán” sang “thực”
Luật Thuế TNCN 2025 đã có những thay đổi quan trọng đối với phương pháp tính thuế cho cá nhân kinh doanh, xóa bỏ tư duy cào bằng và áp dụng nguyên tắc phân tầng quản lý như sau:
Về phân tầng đối tượng nộp thuế:
| Nhóm | Doanh thu | Chế độ thuế |
| Nhóm 1 (Siêu nhỏ) | ≤ 500 triệu đồng/năm | Miễn thuế |
| Nhóm 2 (Nhỏ và vừa) | > 500 triệu đến 3 tỷ đồng/năm | Lựa chọn phương pháp tính (Linh hoạt). |
| Nhóm 3 (Lớn) | > 3 tỷ đồng/năm | Bắt buộc/Khuyến khích tính trên thu nhập (Doanh thu – Chi phí) |
Về chế độ thuế cho hộ kinh doanh quy mô lớn (Doanh thu > 3 tỷ đồng):
Trước đây, một hộ kinh doanh doanh thu 50 tỷ đồng/năm chỉ nộp thuế khoán (ví dụ 1% hay 1,5%) trên doanh thu, mức đóng góp thấp hơn nhiều so với một công ty TNHH cùng quy mô (phải nộp 20% trên lợi nhuận). Hiện tại, Luật mới áp dụng Biểu thuế suất lũy tiến dựa trên quy mô doanh thu đối với nhóm này khi tính thuế trên thu nhập thực tế (Lợi nhuận), nhằm đảm bảo công bằng với nhóm đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp như sau:
| Doanh thu/năm | Thuế suất | So sánh với Thuế TNDN |
| ≤ 03 tỷ đồng | 15% | Thấp hơn (Ưu đãi cho hộ nhỏ chuyển lên) |
| > 03 tỷ – 50 tỷ đồng | 17% | Tương đương mức thuế ưu đãi cho SME |
| > 50 tỷ đồng | 20% | Bằng mức thuế suất phổ thông của Doanh nghiệp |
Theo đó, hộ kinh doanh lớn buộc phải thực hiện chế độ kế toán, lưu giữ hóa đơn đầu vào để chứng minh chi phí. Nếu không, họ sẽ phải chịu rủi ro bị ấn định doanh thu hoặc không được trừ chi phí, dẫn đến số thuế phải nộp rất cao. Đây là một trong số các chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy các hộ kinh doanh lớn chuyển đổi thành doanh nghiệp.
Chế độ thuế cho hộ kinh doanh quy mô nhỏ và vừa (500 triệu – 3 tỷ đồng)
Nhóm này được hưởng cơ chế linh hoạt, có thể chọn nộp thuế theo tỷ lệ % trên doanh thu (phương pháp khoán/trực tiếp) nếu việc hạch toán chi phí quá phức tạp. Biểu thuế suất ấn định được quy định chi tiết tại Khoản 3 Điều 7:
- Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%
- Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%
- Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa: 1,5%
- Hoạt động kinh doanh khác: 1%
- Hoạt động đặc thù (nội dung số, livestream, quảng cáo số): 5%
Trong đó, mức thuế suất 5% đối với lĩnh vực nội dung số cao hơn đáng kể so với các lĩnh vực khác, phản ánh quan điểm của nhà lập pháp rằng đây là lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao và chi phí vật chất thấp, cần có mức điều tiết tương xứng.
4. Định danh và quản lý thu nhập từ tài sản số
Một bước tiến vượt bậc của Luật Thuế TNCN 2025 là việc chính thức đưa “tài sản số” vào phạm vi điều chỉnh, bao gồm: “Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số”, “thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số” (Điều 3, Khoản 10, Điểm d).
Trước đây, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ sở hữu tiền mã hóa cao nhất thế giới nhưng lại thiếu khung pháp lý thuế, dẫn đến thất thu và rủi ro pháp lý cho người sở hữu. Việc luật hóa này đã gián tiếp thừa nhận tài sản số là một loại tài sản (hoặc quyền tài sản) có thể tạo ra thu nhập chịu thuế, dù chưa có Luật riêng về tài sản số. Dù vậy, Luật Thuế TNCN 2025 giao Chính phủ quy định chi tiết về định giá tài sản. Đây là thách thức không nhỏ đối với pháp luật Việt Nam, do tính biến động của tài sản số rất cao. Kinh nghiệm từ Mỹ (IRS) coi tiền ảo là tài sản và đánh thuế trên chênh lệch giá, trong khi Singapore miễn thuế lãi vốn. Việt Nam dường như đang hướng tới mô hình đánh thuế trên từng lần chuyển nhượng (tương tự chứng khoán) hoặc thu nhập từ kinh doanh (nếu là trader chuyên nghiệp).
Đối với cơ chế quản lý thuế sàn thương mại điện tử, theo quy định mới, các cá nhân kinh doanh online (livestream bán hàng, affiliate marketing) sẽ chịu mức thuế suất 5% trên doanh thu (nếu chọn phương pháp ấn định) hoặc 15-20% trên lợi nhuận. Quy định này kết hợp với Luật Quản lý thuế (yêu cầu sàn TMĐT khai thay, nộp thay hoặc cung cấp dữ liệu) dự kiến hạn chế các trường hợp cá nhân kinh doanh online ẩn danh để trốn thuế. Việc áp dụng thuế suất 5% (cao hơn mức 1% của kinh doanh thương mại thông thường) đối với dịch vụ quảng cáo số, nội dung số cũng đặt ra vấn đề về tính cạnh tranh của các nhà sáng tạo nội dung Việt Nam so với các nền tảng nước ngoài.
Tựu chung lại, Luật Thuế TNCN 2025 đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của hệ thống thuế Việt Nam. Việc nâng ngưỡng doanh thu lên 500 triệu đồng thể hiện tính nhân văn trong giảm gánh nặng chi phí của đối tượng kinh doanh; áp dụng thuế suất lũy tiến trên thu nhập thực tế đối với hộ lớn đảm bảo tính công bằng và khuyến khích chính thức hóa nền kinh tế. Đối với người nộp thuế, đây là thời điểm để chuyển đổi tư duy từ “đối phó” sang “tuân thủ và tối ưu hóa” dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về các quy định pháp luật mới.
- Bộ Tài chính, Công văn số 13536/BTC-CST và Tờ trình Chính phủ về Dự án Luật Thuế TNCN (sửa đổi), 2025.
- Quốc hội, Dự thảo Luật Thuế Thu nhập cá nhân (sửa đổi) – Văn bản chính thức, 09/12/2025.
- Cử tri kiến nghị doanh thu chịu thuế trên 1 tỷ đồng, Bộ Tài chính nói gì?, truy cập vào tháng 12 28, 2025, https://taichinhdoanhnghiep.net.vn/cu-tri-kien-nghi-doanh-thu-chiu-thue-tren-1-ty-dong-bo-tai-chinh-noi-gi-d63700.html
- Kinh nghiệm quốc tế về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh – Báo Mới, truy cập vào tháng 12 28, 2025, https://baomoi.com/kinh-nghiem-quoc-te-ve-quan-ly-thue-doi-voi-ho-kinh-doanh-c53479411.epi
